áp xe gan do amip

1. NGOẠI KHOA LÂM SÀNG-2007 ÁP-XE GAN 1-Đại cương: Áp-xe gan là một bệnh lý tương đối hiếm gặp. Theo thống kê tại Mỹ, 80% các trường hợp áp-xe gan là do vi trùng, trong khi đó nguyên nhân do a-míp chiếm 10% và dưới 10% còn lại là do nấm. Đặc điểm của áp-xe gan do vi trùng: o – Áp xe gan do amip là một bệnh nhiễm khuẩn hay gặp ở Việt Nam, chiếm khoảng 80% các nguyên nhân gây áp xe gan. Đầu tiên chúng gây ra các vi huyết khối do tắc mạch, các vi huyết khối này sẽ bị hoại tử và tạo thành các ổ áp xe . áp xe gan do amip cần được phân biệt với các bệnh khác. Ví dụ như: Áp xe gan do vi khuẩn: Trường hợp này hay gặp ở người bị nhiễm khuẩn huyết với tổn thương hay gặp là nhiều ổ nhỏ, mủ tại ổ áp xe có màu xanh hoặc vàng, cấy mủ có vi khuẩn. Áp xe gan do sán lá gan lớn: Khi siêu âm thấy hình ảnh ổ giảm âm hoặc trống âm, ranh giới không rõ. 5.3. Biến chứng bội nhiễm ổ áp xe: Ổ áp xe gan do amip để lâu có thể bị nhiễm khuẩn thêm vào, thường là vi khuẩn yếm khí, vi khuẩn Gram âm. Biến chứng này gặp l% trường hợp. 6. Chẩn đoán 6.1. Chẩn đoán xác định áp xe gan - Dựa vào lâm sàng: Có tam chứng Fontam. Bệnh do amip có thể điều trị bằng thuốc, bạn có thể dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ để điều trị hiệu quả. Lưu ý: Lỵ amip, áp xe gan hoặc u amip không điều trị có thể gây tử vong cao. Điều trị trong giai đoạn sớm của bệnh thì có tiên lượng tốt hơn. Vay Tiền Cấp Tốc Online. Bệnh do amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, bệnh gây tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở những cơ quan khác nhau như gan, não, .... Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực. Mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm amip nhưng 90% người nhiễm là không có triệu chứng, chỉ có 10% số người bị nhiễm có biểu hiện bệnh lỵ amip hoặc áp xe ở các cơ quan khác nhau. Người nhiễm Entamoeba histolytica sẽ hình thành miễn dịch tại chỗ ở thành ruột và toàn thân nhưng không có khả năng bảo vệ cơ thể khi có mầm bệnh xâm nhập. Ở những nước nhiệt đới có đời sống kinh tế xã hội thấp, bệnh có thể gây ra những vụ dịch lớn. Bệnh học amip Kén amip qua thức ăn, nước uống, ... xâm nhập vào cơ thể người qua đường tiêu hoá. Khi tới dạ dày, nhờ tác dụng của dịch vị phá vỡ vỏ, bốn nhân trong kén được giải phóng phát triển thành 4 amip nhỏ sau đó di chuyển xuống cư trú ở hồi manh tràng là nơi giàu chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp và có nhiều vi khuẩn cộng sinh. Bình thường amip nhỏ không xâm nhập được vào thành ruột để gây bệnh mà theo phân xuống đại tràng thải ra ngoài. Một số amip nhỏ co lại thành kén và cũng được thải theo phân ra ngoài là nguy cơ lây lan cho người khác. Khi thành ruột bị tổn thương do vi khuẩn khác hoặc chấn thương, amip nhỏ tấn công vào thành ruột, sinh sản tại đó và tiết ra các men tiêu protein dẫn đến hoại tử tế bào niêm mạc ruột. Tại thành ruột, lúc đầu amip gây ra những điểm sung huyết ở niêm mạc, sau đó tạo nên các cục nhỏ trên bề mặt niêm mạc rồi dần dần hoại tử và tạo thành những vết loét. Các vết loét có thể rộng tới 2-2,5cm, xung quanh bờ cương tụ, phù nề và sung huyết. Đáy vết loét sâu tới lớp dưới niêm và phủ bởi lớp mủ. Những vết loét gần nhau có thể thông với nhau tạo thành vết loét lớn hơn, sâu tới lớp cơ và cùng với các vi khuẩn tạo nên các ổ áp xe sâu, có thể gây thủng ruột và viêm phúc mạc mủ. Amip còn tạo nên các u hạt ở thành ruột đôi khi rất khó phân biệt với ung thư đại tràng. Khi các vết loét gây tổn thương mạch máu thành ruột, amip có thể thâm nhập vào máu và theo dòng máu đi khắp cơ thể gây tổn thương các cơ quan khác ngoài ruột như gan, phổi, não, ... tại đây amip có thể tạo thành các ổ áp xe. Mầm bệnh Nguyên nhân gây ra bệnh amip là đơn bào Entamoeba histolytica thuộc họ Entamoebidae, bộ Amoebida, ngành Protozoa. Chu kỳ sống của amip chia làm 2 thời kỳ thời kỳ hoạt động và thời kỳ nghỉ kén. Tuy vậy amip có thể chuyển từ dạng hoạt động sang dạng nghỉ hoặc ngược lại tùy theo điều kiện dinh dưỡng của môi trường trong cơ thể vật chủ. Dựa vào hình thể và sinh lý của Entamoeba histolytica có thể chia amip ra 3 thể Thể hoạt động lớn có trong phân, chỗ nhiều nhầy máu của người bệnh, kích thước khoảng 15-30 micromet, hoạt động mạnh nhất ở nhiệt độ 37°C và độ pH 6,5. Trong bào tương của amip có nhiều hồng cầu. Thể hoạt động lớn khi vào tế bào thường co lại trong bào tương với kích thước 4-8 micromet. Thể hoạt động nhỏ sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động khoảng 8-25 micromet và chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu. Thể kén là thể được tạo thành từ thể hoạt động nhỏ. Thể kén có hình oval hoặc tròn, đường kính từ 10-14 micromet, được bọc bởi 2 lớp vỏ. Thể kén non có 1 nhân nhưng khi già có 4 nhân. Sự tạo thành thể kén là tất yếu trong vòng đời của amip và đóng vai trò lây bệnh. Kén amip tồn tại ở ngoại cảnh tương đối tốt ở nhiệt độ 17-20°C tồn tại hàng tháng, ở 45°C kén chết sau 30 phút, ở 85°C chết sau vài giây. Nguồn bệnh Người bệnh cả thể cấp tính và mạn tính và người lành mang trùng thải kén amip theo phân gây ô nhiễm thực phẩm và nước uống. Một số động vật như khỉ, chó, mèo, chuột, ... có thể bị bệnh nhưng không thải kén ra ngoài do vậy không phải là nguồn bệnh. Thời gian ủ bệnh có thể kéo dài từ 1-2 tuần cho đến 3 tháng. Bệnh khởi phát có thể từ từ hoặc cấp tính. Người bệnh ban đầu có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, đau bụng, … thường không sốt hoặc sốt nhẹ. Thời kỳ toàn phát, bệnh biểu hiện với 3 triệu chứng chủ yếu là Đau quặn bụng Mót rặn, đi ngoài “giả” bệnh nhân mót rặn, buồn đi đại tiện nhưng lại không có phân Đi tiêu nhiều lần, phân nhầy lẫn máu Thể cấp tính thường gặp hội chứng lỵ bao gồm đau bụng, mót rặn và đi tiêu phân nhầy máu. Đau bụng quặn từng cơn, đau dọc theo khung đại tràng trước khi đi tiêu, đau buốt hậu môn kèm cảm giác mót rặn dữ dội. Đi tiêu phân nhầy máu, đôi khi xen kẽ với tiêu chảy, mỗi lần đi tiêu ít phân, nhưng đi nhiều lần trong ngày. Thể nhẹ đi tiêu phân nhầy máu vài lần mỗi ngày, ít mệt mỏi Thể trung bình bệnh nhân mệt nhiều, đi tiêu khoảng 5-15 lần mỗi ngày Thể nặng bệnh nhân suy kiệt, mất nước, rối loạn chất điện giải, bụng chướng, cảm giác mót rặn và đau bụng nhiều, đi tiêu phân nhầy máu >15 lần/ngày Thể bán cấp Bệnh nhân đau bụng ít, tiêu chảy phân lỏng ít nhầy nhớt, ít khi có cảm giác mót rặn, đôi khi có táo bón. Thể mạn tính Sau giai đoạn cấp tính hay bán cấp, bệnh trở thành mạn tính với nhiều đợt bệnh cách nhau. Lúc này chức năng đại tràng không còn nữa, triệu chứng bệnh giống như viêm đại tràng mạn đau bụng lâm râm, liên tục và rối loạn tiêu hóa, thường là tiêu chảy, đầy hơi, ăn không tiêu đối với một số thức ăn, thể trạng suy nhược, biếng ăn, sụt cân. Trường hợp xảy ra trên những bệnh nhân suy nhược, dinh dưỡng kém, kết hợp với một bệnh ký sinh trùng khác hoặc với một bệnh nhiễm khuẩn đường ruột như thương hàn, lỵ trực trùng hoặc tụ cầu trùng thì bệnh cảnh sẽ rất nặng nề, người bệnh thường tử vong vì sốc dù đã được điều trị tích cực. Bệnh thể hiện bằng hội chứng lỵ kịch liệt cơ thắt hậu môn mở rộng, phân có máu và nhầy tự nhiên chảy ra. Bệnh lỵ amip có thể gây ra các biến chứng như thủng ruột gây viêm phúc mạc, xuất huyết tiêu hóa, polyp đại tràng, sa niêm mạc trực tràng, viêm ruột thừa do amip. Trong đó biến chứng thường gặp là viêm gan hoặc áp xe gan do amip, viêm phổi - màng phổi hoặc áp xe phổi do amip, áp-xe não do amip, ... Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới bệnh do amip được chia thành các thể Amip ruột Thể amip ruột cấp tính Thể amip ruột mạn tính lỵ amip mạn tính Biến chứng ở ruột do amip viêm phúc mạc do thủng ruột, u amip, viêm ruột thừa do amip, co thắt đại tràng do sẹo, sa trực tràng, ... Amip ngoài ruột Viêm gan do amip viêm gan do amip không hóa mủ hoặc áp xe gan do amip Áp xe do amip ở các cơ quan khác phổi, não, ... Amip da Lây qua đường tiêu hoá người mắc bệnh amip do ăn phải vi khuẩn này khi ăn thức ăn hay uống nước bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc với phân của người bệnh. Hoạt động tình dục bằng miệng có tiếp xúc với phân cũng có thể gây nhiễm bệnh. Người nhiễm bệnh có thể lây ký sinh trùng sang người khác ngay cả khi không có triệu chứng. Mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm amip nhưng lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 20 đến 30 tuổi. Ngoài ra những yếu tố nguy cơ khác làm tăng khả năng mắc bệnh do amip là Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới Nhà ở vệ sinh kém, chật chội Ăn rau sống rửa không sạch Chất lượng nguồn nước sinh hoạt hàng ngày kém Đang nhiễm ký sinh trùng khác Phương pháp phòng bệnh amip chủ yếu là vệ sinh ăn uống, tránh để lây nhiễm kén amip vào thức ăn, nước uống Thực hiện ăn chín, uống sôi Khi dùng rau quả tươi phải rửa sạch dưới vòi nước, phải khử trùng hoặc có xử lý bằng tia cực tím để diệt kén amip. Không dùng thức ăn, thức uống từ những nguồn không rõ ràng. Không uống nước chưa khử sạch từ sông, hồ hay suối. Nhiều loại viên lọc nước không thể diệt được loại ký sinh trùng này. Uống nước hay sử dụng nước đá từ các nguồn sạch như nước đóng chai. Không nên uống sữa hay ăn các sản phẩm bơ sữa chưa tiệt trùng, hoa quả chưa nấu trừ khi có thể bóc vỏ, salad và rau sống. Luôn rửa tay kỹ bằng nước và xà phòng trước khi ăn, trước khi nấu nướng, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã hay sau khi giúp người khác đi vệ sinh. Luôn sử dụng các biện pháp bảo vệ, như miếng bảo vệ răng miệng, khi có các hoạt động tình dục liên quan đến hậu môn chạm với miệng. Xử lý phân hợp vệ sinh, tuyệt đối không dùng phân tươi bón rau quả. Vứt bỏ tất cả những thứ có thể đã dính phân. Điều trị những người mang kén amip bằng metronidazol. Tuyên truyền giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm. Lâm sàng tùy theo từng thể bệnh. Đại tràng là nơi cư trú đầu tiên của amip do vậy thể amip ruột là thể bệnh cơ bản hầu như các bệnh nhân đều trải qua. Hội chứng lỵ là hội chứng cơ bản trong bệnh do amip với các triệu chứng sau đau bụng dọc khung đại tràng nhất là vùng manh tràng, đại tràng lên, mót rặn, đi tiêu xong đỡ đau, phân có nhầy trong và máu, nhầy và máu riêng rẽ. Đi tiêu khoảng 4-10 lần trong ngày, có lần đi ngoài “giả”. Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc không rõ ràng. Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, sốt thất thường trong ngày hoặc không sốt, các triệu chứng nhiễm độc nhẹ, không rõ ràng. Dịch tễ Tiếp xúc với người bị bệnh Trong gia đình có người bị bệnh Cùng bếp ăn có người bị bệnh Sống trong vùng đang có dịch lưu hành Ăn thức ăn nghi bị nhiễm amip Xét nghiệm Chẩn đoán xác định phải dựa vào việc tìm thấy Entamoeba histolytica ở trong phân, mủ các ổ áp xe của bệnh nhân. Phương pháp thông thường nhất là lấy bệnh phẩm soi tươi trên kính hiển vi quang học phải soi ngay khi mới lấy bệnh phẩm. Ngoài ra có thể ứng dụng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phản ứng kết hợp bổ thể hoặc nuôi cấy amip ở môi trường nhân tạo và cấy truyền bệnh cho động vật thực nghiệm mèo, chuột, .... Để xác định những ổ áp xe hoặc u amip có thể làm siêu âm gan, thận, chụp X-quang phổi, não, chụp cắt lớp vi tính CT scanner. Trong trường hợp áp xe gan, thận, phổi chọc hút ổ áp xe sẽ thấy mủ màu sôcôla. Chẩn đoán phân biệt tùy theo từng thể bệnh mà cần phải chẩn đoán phân biệt với những bệnh khác nhau. Đối với amip ruột lỵ amip Phân biệt với bệnh lỵ trực khuẩn vì đều có hội chứng lỵ. Tuy vậy bệnh lỵ trực khuẩn thường diễn biến cấp tính với hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc rõ. Các triệu chứng của hội chứng lỵ cũng khác đau bụng dọc theo khung đại tràng, đặc biệt là đại tràng xích ma và trực tràng, đi tiêu nhiều lần, phân nhầy đục máu lẫn lộn hoặc loãng như nước rửa thịt. Phân biệt với viêm đại tràng mạn, bệnh Crohn, bệnh loét đại tràng, loạn khuẩn ruột, nhiễm độc kim loại nặng chì, thuỷ ngân, ..., hội chứng tăng urê huyết, khối u đại trực tràng, khối u vùng tiểu khung, ... Đối với viêm gan do amip cần phân biệt với viêm gan do siêu vi. Đối với áp xe gan do amip cần phân biệt với áp xe đường mật do vi khuẩn hoặc ung thư đường mật, ung thư gan, ... Đối với áp xe phổi cần phân biệt với lao phổi, u phổi hoặc áp xe phổi do các nguyên nhân khác. Điều trị đặc hiệu các thuốc diệt amip theo chỉ định của bác sĩ Điều trị kết hợp Thuốc giảm đau nếu bệnh nhân đau bụng nhiều do co thắt đại tràng thì dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ, ... Trong trường hợp áp xe gan, áp xe phổi có bội nhiễm vi khuẩn phối hợp thuốc diệt amip với thuốc kháng sinh theo kháng sinh đồ, đồng thời phải giải quyết ổ áp xe bằng chọc hút hoặc phẫu thuật khi ổ áp xe gan do amip quá to đường kính >6-8cm. Xem thêm Bệnh áp xe gan có nguy hiểm không? Gan nằm ở vị trí nào trong cơ thể người? Gói khám sàng lọc gan mật - toàn diện Áp xe gan là gì ? Gan là cơ quan quan trọng trong cơ thể con người, có chức năng dự trữ năng lượng, tạo ra protein và thải trừ những chất gây hại cho cơ thể. Áp xe gan là hiện tượng hình thành ổ mủ trong tổ chức gan do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm ký sinh trùng. Áp xe có thể to hoặc nhỏ, là một bệnh rất nguy hiểm vì gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng cho con người. Nguyên nhân áp xe gan có thể do vi khuẩn, ký sinh trùng gây ra. Ở các nước phát triển, nguyên nhân do vi khuẩn chiếm tỷ lệ hàng đầu. Nhưng nhìn chung trên toàn thế giới, áp xe gan do ký sinh trùng là amip lại là nguyên nhân phổ biến nhất. Vi khuẩn và ký sinh trùng có thể xâm nhập vào cơ thể gây áp xe gan theo đường máu là động mạch và tĩnh mạch, theo đường bạch huyết hoặc đường dẫn mật. Các loại vi khuẩn và ký sinh trùng đều tổn tại trong các ổ nhiễm khuẩn như mụn, nhọt, các áp xe cơ, áp xe phổi. Ngoài ra, áp xe gan cũng có thể do vi sinh vật đi ngược theo đường mật vào gan gây nhiễm khuẩn khu trú gọi là áp xe gan đường mật Các triệu chứng áp xe gan không xuất hiện ngay những khi xuất hiện, sẽ biểu hiện lâm sàng rất nặng. Các triệu chứng nguy hiểm của bệnh như Buồn nôn và nôn Chán ăn, sụt cân Vã mồ hôi nhiều Vàng da Sốt cao kèm rét run sốt 39°C - 40°C trong giai đoạn cấp tính của bệnh, sau đó sẽ giảm xuống và kéo dài. Đau tức hạ sườn phải đây là biểu hiện do gan bị sưng to, nếu ổ áp xe to cấp tính thì đau lan xuống vùng thượng vị hoặc toàn bộ vùng bụng. Cảm giác căng tức, nặng vùng hạ sườn phải do gan sưng to, đẩy cơ hoành lên cao nên bệnh nhân có cảm giác này và có khi sẽ gây ho và ho. Ấn kẽ sườn 11- 12 đau khi thăm khám lâm sàng. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến mắc phải áp xe gan là Nữ giới Độ tuổi 60- 70. Hoặc áp xe gan cũng có ở trẻ sơ sinh do thông tĩnh mạch rốn và nhiễm trùng. Không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong ăn uống. Người bị các bệnh về gan như nhiễm trùng gan, suy chức năng gan. Để phòng ngừa bệnh áp xe gan, mọi người cần thực hiện những điều sau trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Thực hiện ăn chín uống sôi không ăn các loại thức ăn sống như nem, gỏi, tiết canh... Không uống nước chưa được đun sôi như nước lã ao, hồ, suối... Không ăn rau sống chưa được rửa sạch. Rửa sạch tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Khi cơ thể có dấu hiệu nhiễm khuẩn, cần đến cơ sở y tế khám và chữa trị ngay. Khi nghi ngờ bị áp xe gan, nên khám bệnh sớm nhất để theo dõi và điều trị, tránh những biến chứng nguy hiểm như vỡ ổ áp xe gan, nhiễm trùng ổ bụng, vỡ ống tiêu hóa. Ngoài những biểu hiện trên lâm sàng như đau tức hạ sườn phải, sốt cao, ho và khó thở... Để chẩn đoán chính xác áp xe gan cần làm những xét nghiệm cận lâm sàng như Xét nghiệm máu để tìm dấu tăng bạch cầu, thiếu máu đẳng sắc nhẹ hồng cầu bình thường. Xét nghiệm tốc độ lắng máu. Xét nghiệm chức năng gan ALP tăng, Albumin giảm, men gan tăng, bilirubin tăng. 50% trường hợp áp xe gan sẽ cho kết quả cấy máu dương tính. Xét nghiệm phân chứa trứng hay thể tư dưỡng của histolytica. Nếu nghi ngờ nhiễm histolytica, làm thêm xét nghiệm huyết thanh. X quang ngực thẳng có hình ảnh vòm hoành bên phải nâng cao, có xẹp phổi hay tràn dịch màng phổi. Siêu âm áp xe gan cũng được dùng để chẩn đoán bệnh. Chụp cắt lớp vi tính cũng phát hiện được áp xe gan. Nội soi mật tụy ngược dòng sẽ chỉ ra vị trí và nguyên nhân tắc nghẽn, cho phép đặt stent hoặc dẫn lưu. Hiện nay, hai phương pháp phổ biến để điều trị áp xe gan là điều trị nội khoa và dẫn lưu rút mủ qua da. Điều trị nội khoa Các bệnh nhân áp xe gan được điều trị bằng thuốc kháng sinh phổ rộng. Trên thực tế, bệnh nhân bị áp xe gan được các bác sĩ phẫu thuật chọc hút ổ áp xe trước khi điều trị nội khoa. Sau đó bệnh phẩm được nuôi cấy và bệnh nhân được cho thuốc dựa vào kết quả kháng sinh đồ. Đây là sự phối hợp điều trị mang lại hiệu quả cao và tiết kiệm kinh phí chữa trị cho người bệnh. Dẫn lưu rút mủ qua da Hầu hết những ca áp xe gan do vi khuẩn hoặc áp xe gan lớn do amip không được điều trị phục hồi hoàn toàn chỉ với kháng sinh đơn thuần. Do đó cần được dẫn lưu dựa vào kết quả siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính. Phương pháp này cũng cần thiết khi áp xe vỡ và bệnh nhân bị viêm phúc mạc, ổ áp xe quá lớn > 5cm hoặc nhiều vách, hay bệnh nhân mắc phải các bệnh lý trong ổ bụng cần phẫu thuật như viêm ruột thừa. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế như khó áp dụng với các áp xe lớn, nhiều ổ áp xe, các bệnh kết hợp như bệnh đường mật cần phẫu thuật. Xem thêm Bệnh áp xe gan có nguy hiểm không? Các biến chứng do áp xe gan gây nên Dẫn lưu áp xe gan Áp xe gan do amip là một bệnh nhiễm khuẩn thường gặp. Tại Việt Nam, nguyên nhân gây áp xe gan này chiếm tới khoảng 80% tổng số ca bệnh. Đây là bệnh lý nguy hiểm, có thể gây ra hàng loạt biến chứng ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và cướp đi tính mạng của người bệnh. Tổng quan về bệnh Áp xe gan là hiện tượng lá gan xuất hiện những lỗ hổng nhỏ chứa mủ. Trong khi đó, gan là một cơ quan quan trọng với nhiều chức năng, trong đó có dự trữ năng lượng, tạo protein và loại bỏ những độc hại khỏi cơ thể. Khi gan bị nhiễm khuẩn hoặc ký sinh trùng, nó có thể xuất hiện những lỗ nhỏ có mủ - gọi chung là ổ áp xe gan. Áp xe gan do amip là bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, khu vực có khí hậu nóng ẩm, sở hữu điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn, tập quán sinh hoạt lạc hậu. Bệnh này chiếm tỉ lệ cao ở các nước Tây Phi, Nam Phi, Đông Nam Á… trong đó có Việt Nam. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi giới nhưng thường gặp ở nam, chủ yếu ở trong độ tuổi 20 – 40. Hình ảnh áp xe gan do amip Biểu hiện lâm sàng của bệnh áp xe gan do amip khá đa dạng,. Hiệu quả điều trị có thể đạt tối đa nếu bệnh được phát hiện sớm,. Tuy nhiên nếu không can thiệp khắc phục kịp thời, bệnh sẽ tiến triển tương đối nặng nề, thậm chí gây ra các biến chứng dẫn tới tử vong. Nguyên nhân gây bệnh Amip có 2 loại là Entamoeba histolytica loại ăn hồng cầu và gây bệnh và Entamoeba minuta loại ăn vi khuẩn và cặn thức ăn, không gây bệnh. Sau khi cơ thể nhiễm amip sẽ xuất hiện các tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng. Bệnh có xu hướng kéo dài và tái phát nhiều lần nếu không được điều trị tích cực. Do lưu lượng máu của tĩnh mạch cửa phần lớn tập trung vào gan phải nên trên 80% áp xe gan do amip gặp ở gan phải. Ngoài ra amip còn có thể lên gan theo đường bạch mạch hoặc là di chuyển trực tiếp vào tổ chức gan. Thương tổn mạch máu ở đại tràng đã tạo cơ hội cho amip theo tĩnh mạch vào tuần hoàn cửa hoặc hệ bạch mạch đến gan. Tại đây chúng thường bị chặn lại bởi các xoang tĩnh mạch, từ đó gây ra hoại tử ướt để thành lập các ổ áp xe gan. Theo các chuyên gia, bác sĩ, amip rất hiếm khi vào tuần hoàn chung để tạo thành áp xe phổi, não, lách. Triệu chứng, dấu hiệu nhận biết Triệu chứng thể điển hình của bệnh áp xe gan do amip chính là tam chứng Fontan bao gồm Sốt, đau hạ sườn phải và gan to. Cụ thể Sốt Người bệnh có thể sốt nhẹ hoặc sốt cao, sốt liên tục hoặc từng cơn hoặc cũng có thể sốt kéo dài > 2 tuần . Sốt thường là triệu chứng đầu tiên, xuất hiện vài ngày trước các dấu hiệu khác như đau bụng vùng hạ sườn phải và gan to. Đau hạ sườn phải Mức độ đau hạ sườn ở người bị áp xe gam sẽ tùy từng trường hợp, có thể đau âm ỉ,đau từng đợt hoặc đau quặn dữ dội sau đó lan ra vùng thượng vị và vai phải. Cơn đau thường kéo dài nhiều ngày, cường độ đau tăng lên khi bệnh nhân ho, hít thở sâu hoặc khi vận động,… Gan to và đau Khi thăm khám, bác sĩ có thể nhận thấy người bệnh có gan to, tuy nhiên cũng chỉ to hơn khoảng 3 – 4cm dưới bờ sườn, bờ tù, ấn đau. Một số trường hợp có thể có thêm dấu hiệu ấn kẽ sườn có điểm đau nhói, đó là khi ổ áp xe gần với bao gan gây kích thích cơ quan lân cận, trong đó có cả thành ngực. Đây là dấu hiệu rất có giá trị trong việc chẩn đoán áp xe gan. Đau hạ sườn phải có thể là triệu chứng áp xe gan do amip Ngoài tam chứng Fontan, người bệnh áp xe gan do amip cũng có thể gặp các dấu hiệu lâm sàng khác, chẳng hạn như Tràn dịch màng phổi Người bệnh bị tràn dịch màng phổi không quá nhiều. Nguyên nhân của triệu chứng này có thể do ổ áp xe ở vị trí sát cơ hoành và gây phản ứng viêm kế cận dẫn tới xuất tiết dịch viêm vào khoang màng phổi. Ngoài ra ổ áp xe vỡ qua vòm hoành vào khoang màng phổi gây tràn mủ khoang màng phổi cũng có thể gây ra tình trạng trên. Đây là một biến chứng vô cùng nguy hiểm của áp xe gan nói chung và áp xe gan do amip gây ra nói riêng. Rối loạn tiêu hóa Rối loạn tiêu hóa ở người bị áp xe gan do amip thường biểu hiện giống hội chứng lỵ với các dấu hiệu điển hình là đau quặn bụng, mót rặn, đi ngoài phân lỏng, nhầy máu mũi. Triệu chứng trên có thể xuất hiện trước tam chứng Fontan. Khi soi phân, bác sĩ có thể tìm thấy amip thể gây bệnh. Gầy sút cân Người bệnh áp xe gan do amip thường sút cân nhiều và nhanh, nguyên nhân là do có ổ nung mủ sâu và do ăn uống kém. Bên cạnh đó, ở một số trường hợp không điển hình, bệnh nhân áp xe gan do amip vẫn có thể không sốt, nhưng lại có biểu hiện vàng da, suy gan Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh Đối tượng có nguy cơ cao mắc áp xe gan do amip chính là Người có thói quen ăn uống không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Người đang mắc các bệnh về gan, như suy chức năng gan hay nhiễm trùng. Nữ giới có thể có nguy cơ mắc bệnh áp xe gan do amip cao hơn nam giới tuy không nhiều. Độ tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao là từ 60 đến 70 tuổi. Áp xe gan cũng thường gặp ở trẻ sơ sinh do có liên quan đến thông tĩnh mạch rốn và nhiễm trùng. Đường lây nhiễm Bệnh áp xe gan không lây truyền từ người sang người. Tuy nhiên, amip gây bệnh này lại có khả năng lây lan nhanh. Con đường lây truyền của amip gây áp xe gan chính là đường phân-miệng. Amip sau khi xâm nhập qua niêm mạc ruột của con người và có thể đi vào trong tĩnh mạch cửa đến gan và gây viêm nhiễm. Biến chứng của bệnh Bệnh áp xe gan do amip nếu không được can thiệp điều trị sớm và đúng hướng có thể gây ra hàng loạt các biến chứng nguy hiểm như sau Vỡ ổ áp xe vào khoang màng phổi Khi bị biến chứng này, người bệnh sẽ xuất hiện đau ngực tăng, ho, sốt. Các trường hợp này cần được xử trí khẩn cấp bằng cách dẫn lưu mủ màng phổi để điều trị đồng thời tránh nguy cơ biến chứng dày dính màng phổi. Vỡ vào phổi Ổ áp xe vỡ vào nhu mô phổi, nếu như thông với nhánh phế quản thì người bệnh sẽ có biểu hiện khạc ra mủ màu sô-cô-la, đây được xem là một hình thức dẫn lưu cho ổ áp xe. Tuy nhiên, nếu như không chăm sóc và hướng dẫn bệnh nhân dẫn lưu theo đúng tư thế và đúng cách thì đây có thể sẽ trở thành yếu tố thuận lợi cho bội nhiễm vi khuẩn, từ đó gây viêm phổi hoặc áp xe phổi. Vỡ vào khoang màng tim Biến chứng này thường gặp ở các bệnh nhân có ổ áp xe gan trái. Trên lâm sàng, người bệnh có biểu hiện khó thở, tím tái, đau ngực liên tục. Khi thăm khám, bác sĩ phát hiện các dấu hiệu của tràn dịch màng ngoài tim, Nếu lượng dịch ít, có thể chỉ nghe thấy tiếng cọ màng ngoài tim. Ngược lại nếu lượng mủ tràn vào khoang màng ngoài tim nhiều thì hoàn toàn có thể gây chèn ép tim cấp. Lúc này, bệnh nhân có biểu hiện khó thở, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, thực hiện nghiệm pháp phản hồi gan-tĩnh mạch cổ cho kết quả dương tính, tiếng tim mờ,..... Khi áp xe gan vỡ vào khoang màng ngoài tim thì người bệnh cần được chọc hút dịch màng ngoài tim cấp cứu để tránh nguy cơ chèn ép tim cấp dẫn tới tử vong. Ổ áp xe vỡ vào ổ bụng gây tình trạng viêm phúc mạc toàn thể Đây là biến chứng thường gặp của bệnh áp xe gan do amip. Trên lâm sàng bệnh nhân có biểu hiện đau bụng đột ngột, dữ dội, đau tăng lan ra khắp bụng, sốt biểu hiện nhiễm trùng nhiễm độc. Khi thăm khám, bác sỹ phát hiện ra các dấu hiệu bụng chướng, liệt ruột gây bí trung đại tiện và chướng bụng, siêu âm thấy hình ảnh dịch ổ bụng. Trường hợp này, bệnh nhân cần có chỉ định phẫu thuật điều trị, kết hợp dẫn lưu ổ áp xe và làm sạch ổ phúc mạc. Ổ áp xe vỡ vào ổ bụng nhưng được các tạng trong ổ bụng và mạc nối lớn bao bọc lại gây viêm phúc mạc khu trú. Đây là một trường hợp khó chẩn đoán, dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác như ứ nước, ứ mủ đài bể thận, nang tụy Áp xe dưới hoành Ổ áp xe gan vỡ ra được các dây chằng của gan và vòm hoành khu trú ổ mủ giữ lại, tạo thành ổ áp xe dưới vòm hoành. Trên lâm sàng, bệnh nhân có các biểu hiện kích thích cơ hoành như nấc, ho khan, đau ngực tăng lên khi ho, hít thở sâu; kèm theo có các dấu hiệu nhiễm trùng dai dẳng. Trên hình ảnh X-quang ngực xuất hiện hình ảnh vòm hoành bị nâng cao, thường là vòm hoành bên phải. Siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng, phát hiện rõ vị trí và tính chất ổ áp xe. Biện pháp chẩn đoán Để chẩn đoán chính xác bệnh áp xe gan do amip, bác sĩ sẽ kết hợp đồng thời các biện pháp sau Dựa vào tiền sử và bệnh sử lỵ amip. Chẩn đoán gợi ý khi có tam chứng Fontan Sốt, gan lớn và đau. Chẩn đoán đặt ra khi trên siêu âm hoặc CT cho hình ảnh áp xe. Thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán. Các xét nghiệm chẩn đoán áp xe gan do amip bao gồm Xét nghiệm máu thường quy phát hiện thấy bạch cầu tăng cao, máu lắng tăng. Siêu âm gan Đây là xét nghiệm không xâm nhập, giúp theo dõi tiến triển của bệnh và hướng dẫn điều trị. Hình ảnh trên siêu âm giai đoạn đầu thường là hình ảnh hỗn hợp âm, trong khi giai đoạn sau là ổ trống âm kèm theo có vỏ dày. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng để thấy rõ hình ảnh áp xe gan Phát hiện amip gây bệnh bằng phản ứng men ELISA. Chọc hút khối áp xe có mủ màu socola để sinh thiết. Phương pháp điều trị Điều trị áp xe gan amip cần áp dụng các biện pháp nội, ngoại khoa hoặc kết hợp với thủ thuật thuật chọc hút kèm theo hướng dẫn siêu âm hoặc CT scanner. Kết quả chữa bệnh sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như Tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân. Giai đoạn phát triển bệnh. Tình trạng tổn thương gan. Kích thước và vị trí của các ổ áp xe. Ngày nay 3 biện pháp thường xuyên phối hợp để điều trị áp xe gan do amip đó là Thuốc đặc trị amip. Loại bỏ ổ mủ áp xe. Kháng sinh kết hợp. Loại bỏ ổ mủ áp xe khi nó đã hình thành bằng chọc hút kết hợp thuốc diệt Amip được áp dụng trong các trường hợp Ổ áp xe gan có kích thước quá to với đường kính > 6cm. Bệnh nhân bị áp xe gan do Amip đã trên 1 tháng. Phương pháp chọc hút mủ cần kèm theo kỹ thuật soi ổ bụng hoặc của siêu âm. Số lần chọc hút có thể là 1,2 thậm chí 3 lần. Thực tế cho thấy có những trường hợp bệnh nhân cần chọc hút tới 2,5 lít mủ phối hợp với thuốc diệt Amip mới có thể khỏi hoàn toàn. Phẫu thuật kết hợp với thuốc diệt Amip Mổ áp xe gan hiện nay thường ít được chỉ định, thông thường kỹ thuật điều trị này chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể như sau Khi áp xe gan đã gây ra các biến chứng nguy hiểm. Bệnh nhân áp xe gan nặng, có biến chứng nguy hiểm nhưng vì một lý do nào đó không thể chọc hút mủ ổ áp xe được. Bệnh nhân bị áp xe gan Amip kéo dài trên 4 tháng, đã điều trị nội khoa bằng chọc hút mủ và thuốc diệt Amip những không có kết quả. Ổ áp xe to, gan to quá rốn tới hố chậu và nổi phồng lên, khi dùng tay sờ vào thấy căng như một bọc nước. Biện pháp phòng ngừa bệnh Theo các chuyên gia, bác sĩ, chúng ta có thể phòng ngừa hiệu quả bệnh áp xe gan do amip bằng các biện pháp thiết thực như sau Rửa tay trước khi ăn, uống và sau khi đi vệ sinh. Tuyệt đối không để kén amip vào thức ăn, đồ uống Xử lý phân hiệu quả, tuyệt đối không dùng phân tươi để bón rau quả. Khi ăn rau quả tươi phải rửa sạch, khử trùng hoặc có xử lý bằng tia cực tím để diệt kén amip. Khi phát hiện thất kén amip trong cơ thể, phải điều trị triệt để bằng metronidazol. Áp xe gan do amip là bệnh lý có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Bởi vậy, việc phòng tránh bệnh là vô cùng cần thiết. Ngoài các biện pháp thiết thực trên, chúng ta cũng cần thăm khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện bệnh, từ đó có hướng điều trị hiệu quả. Áp xe gan do amip là bệnh phổ biến và gây biến chứng nguy hiểm. Biến chứng áp xe gan do amip nếu không được xử trí điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Áp xe gan do amip là tình trạng tổn thương bên trong tổ chức gan do amip gây ra. Amip là một loại nguyên sinh vật đơn bào thường gây bệnh ở niêm mạc đại tràng, ruột và thông qua đường này đi vào các cơ quan khác như gan để gây thương tổn là khối áp xe gan do amip là khối chứa dịch mủ, có kích thước to hoặc nhỏ, có thể có một hoặc nhiều ổ dịch mủ. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm. 2. Triệu chứng áp xe gan do amip Gan to là triệu chứng áp xe gan do amip thể điển hình Áp xe gan do amip có nhiều thể, trong đó có 2 thể chính là thể điển hình chiếm tỷ lệ 2⁄3 và không điển hình. Tùy vào mỗi giai đoạn, triệu chứng của bệnh sẽ khác Áp xe gan do amip thể điển hìnhTriệu chứng áp xe gan do amip thể điển hìnhSốt Người bệnh có thể sốt nhẹ từ 37,5 độ C đến sốt cao 40 độ C. Đây là triệu chứng thường gặp và xuất hiện đầu vùng gan và hạ sườn phải Người bệnh có thể đau từ mức độ nhẹ như đau tức, đau nhói đến gan, gan to Khi gan tăng kích thước khoảng 3 - 4cm, ấn vào vùng dưới sườn phải có thể thấy mỏi, rối loạn tiêu hóa, sụt cân, phù chân mu bàn chân, phù mức độ nhẹ, tràn dịch màng phổi, cổ Áp xe gan do amip thể không điển hìnhTriệu chứng áp xe gan do amip thể không điển hìnhThể không sốt Người bệnh có thể sốt hoàn toàn không có triệu chứng sốt hoặc chỉ sốt trong vài ngày, sau đó hết hẳn; sau sốt người bệnh thấy đau vùng hạ sườn phải, sụt cân sốt kéo dài Người bệnh có thể sốt kéo dài liên tục hoặc ngắt quãng. Không đau gan, gan không vàng da Khối áp xe đè vào đường mật và gây ra triệu chứng vàng da, dẫn đến chẩn đoán nhầm với áp xe đường mật, ung thư đường mật, ung thư suy gan Khối áp xe có kích thước quá to nên phá hủy một nửa tổ chức gan, gây phù cổ trướng, rối loạn chức năng gan, dẫn đến hôn mê gan, thậm chí có thể gây tử áp xe gan trái Thể này rất khó chẩn đoán, nếu vỡ khối áp xe có thể gây tràn dịch mủ vào màng phổi màng phổi Thể này cũng rất khó chẩn đoán hoặc chẩn đoán nhầm với phổi màng phổi. Khối áp xe gan xâm lấn đến màng phổi và gây ra phản tràn dịch màng ngoài tim Thể này gây ra các triệu chứng của bệnh tim, do đó thường bị chẩn đoán nhầm là bệnh tràn dịch màng ngoài giả ung thư gan Gan to và cứng triệu chứng của ung thư gan, người bệnh sụt cân nhanh. 3. Biến chứng áp xe gan do amip Khối áp xe nằm ở bên phải của gan Áp xe gan do amip có thể dẫn đến những biến nguy hiểm nhưVỡ vào màng phổi và phổi Khối áp xe nằm ở đỉnh của gan, bên phải, khi vỡ có thể làm thủng cơ hoành, vỡ thẳng vào phổi, tràn dịch mủ vào màng phổi và vào màng ngoài tim Khi vỡ, khối áp xe gây ra các triệu chứng tương tự như ép tim hoặc suy tim. Bệnh nhân nếu không được cấp cứu kịp thời có thể tử vào ổ bụng Khối áp xe gan vỡ vào ổ bụng và gây viêm phúc mạc toàn thể. Bệnh nhân có thể bị sốc nhiễm khuẩn và đối mặt với nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp vào ống tiêu hoá Khối áp xe vỡ vào dạ dày, đại tràng, khiến người bệnh nôn hoặc đại tiện ra mủ hoặc máu kéo biến chứng ít gặp khác như bội nhiễm áp xe, nung mủ kéo dài, khối áp xe vỡ hoặc rò mủ vào thành bụng. 4. Điều trị áp xe gan do amip Điều trị áp xe gan do amip bao gồm một hoặc kết hợp nhiều phương pháp sauĐiều trị nội khoa Một số loại thuốc thường dùng thuộc nhóm imidazole như metronidazole hoặc hút khối áp xe Dưới hướng dẫn của máy siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính, người bệnh được rửa sạch mủ trong khối áp xe, sau đó, bơm thuốc vào khối áp xe để tiêu diệt amip gây trị ngoại khoa Phẫu thuật chỉ áp dụng đối với các trường hợp khối áp xe gan có kích thước quá lớn không thể chọc hút, hoặc thất bại trong điều trị nội vào kích thước, vị trí và số lượng ổ áp xe, mức độ gan bị tổn thương, giai đoạn bệnh, tình trạng bệnh nhân, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và kết quả điều trị sẽ khác nhau. 5. Phòng ngừa áp xe gan do amip Rửa tay, vệ sinh sạch sẽ trước khi ăn uống để phòng ngừa áp xe gan do amip Amip là nguyên sinh vật đơn bào gây bệnh ở người, phát triển mạnh ở môi trường khí hậu nhiệt đới. Để phòng ngừa bệnh do amip gây ra nói chung, trong đó có áp xe gan, cần phảiRửa tay, vệ sinh sạch sẽ trước khi ăn sạch rau củ quả trước khi ăn, chế nước sạch, đã đun ăn thức ăn chưa được nấu chín, hoặc để lâu, không che đậy bên xuyên vệ sinh, dọn dẹp nơi ở, sinh hoạt, làm bị chứng lỵ do amip đại tràng nên thăm khám và điều trị triệt để, tránh để amip đi vào gan gây áp xe và tổn thương xe gan do amip là bệnh nguy hiểm vì có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng khi vỡ khối áp xe. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Gây mê nội khí quản phẫu thuật áp xe gan Ba năm nuốt nghẹn vì co thắt tâm vị, tôi đã hết bệnh như thế nào? Áp xe gan vì sao cần điều trị càng sớm càng tốt? Bài viết của Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Thị Phương Thúy - Bác sĩ chuyên khoa Gan mật - Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Áp xe gan do amip là bệnh nhiễm trùng phổ biến và gây biến chứng nguy hiểm. Nếu không được điều trị kịp thời, áp xe gan amip có thể dẫn đến tử vong cho người bệnh. 1. Áp xe gan amip là gì? Áp xe gan amip là tình trạng ổ viêm gây mủ trong gan do một loại ký sinh trùng đường ruột được gọi là amip, tên khoa học là Entamoeba histolytica gây sau khi xâm nhập vào cơ thể thường gây ra tình trạng viêm ruột, còn được gọi là lỵ amip. Người mắc bệnh lỵ amip thường có các triệu chứng như đau quặn bụng, mót rặn, tiêu chảy kèm chất nhầy và máu trong phân. Sau khi gây ra viêm ruột, amip có thể lan truyền theo dòng máu để đi đến gan, từ đó gây ra tình trạng áp xe gan lây truyền ký sinh trùng amip là từ nguồn thức ăn hoặc nước uống đã bị nhiễm bẩn do phân của người bệnh có thể xảy ra do dùng phân người bệnh tưới cho cây trồng. Lỵ amip cũng có thể lây truyền do tiếp xúc người với người, phổ biến nhất ở những khu vực sống đông đúc và vệ sinh kém, trong đó ở Việt Nam cũng gặp với tần suất số yếu tố nguy cơ khiến bạn bị áp xe gan amip bao gồmSinh sống hoặc đi đến những khu vực nhiệt đớiNghiện rượuUng thưSuy giảm miễn dịch bao gồm HIV/AIDSDinh dưỡng kémTuổi caoCó thaiDùng các thuốc nhóm steroid 2. Triệu chứng áp xe gan amip Có thể có hoặc không có triệu chứng của nhiễm trùng ở ruột, nhưng khi bệnh nhân có tình trạng áp xe gan amip thì có thể sẽ có các triệu chứng sauĐau bụng, đặc biệt ở hạ sườn phải, đau dữ dội, liên tục hoặc như dao đâmHoSốt và ớn lạnhTiêu chảy không có máu chỉ xuất hiện ở 1/3 bệnh nhânCảm giác mệt mỏi, uể oảiNấc cụt liên tục hiếmVàng da vàng ở da, niêm mạc, mắtChán ănĐổ mồ hôiSụt cân Chán ăn là một trong các triệu chứng áp xe gan amip thường gặp 3. Thăm khám và xét nghiệm Bác sĩ sẽ khám và hỏi bạn một số câu hỏi về triệu chứng và lịch sử đi sĩ có thể yêu cầu làm một số xét nghiệmCông thức máuXét nghiệm chức năng ganXét nghiệm máu hoặc phân để phát hiện amipSiêu âm bụngChụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ ổ bụngChọc hút dịch mủ của ổ áp xe gan để phát hiện vi trùng, ký sinh trùng. 4. Điều trị áp xe gan amip Dùng thuốc Thường dùng kháng sinh như Metronidazole hoặc Tinidazole nếu bị áp xe gan amip. Ngoài ra, khi áp xe gan đã được loại bỏ, cần kết hợp với một thuốc để loại bỏ amip còn trong lòng ruột, giúp ngăn ngừa bệnh tái phát, như paromomycin hoặc số ít trường hợp cần chọc hút dẫn lưu hoặc phẫu thuật nhằm loại bỏ ổ áp xe để giảm đau bụng và tăng khả năng điều trị thành công. 5. Biến chứng và tiên lượng Nếu không điều trị, ổ áp xe gan có thể vỡ và lan sang các cơ quan khác, dẫn đến tử vong. Ổ áp xe có thể vỡ vào ổ bụng, phổi, màng phổi hoặc màng ngoài tim. Nhiễm amip cũng có thể lan đến được điều trị thì cơ hội chữa khỏi là rất cao và chỉ một số rất ít các trường hợp có biến lại, áp xe gan amip là tình trạng nguy hiểm do một loại ký sinh trùng đường ruột amip gây viêm mủ trong gan. Do đó, để phòng tránh bệnh, khi đi đến vùng có điều kiện vệ sinh kém, cần uống nước lọc và không ăn rau củ sống hoặc quả đã bóc vỏ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Áp xe gan vì sao cần điều trị càng sớm càng tốt? Áp-xe gan do amip và biến chứng thường gặp Công dụng thuốc Cbizentrax

áp xe gan do amip